Truy cập

Hôm nay:
288
Hôm qua:
238
Tuần này:
796
Tháng này:
5761
Tất cả:
173066

TỔNG QUAN VỀ  XÃ THỌ TRƯỜNG

 

 

          Xã Thọ Trường Huyện Thọ Xuân, trước kia là xã Long Linh thuộc tổng Thử Cốc huyện Thiệu Hoá. Thọ Trường gồm 3 làng: Long Linh Nội, Long Linh Ngoại (gọi là Quyết Thắng), Căng Hạ (gọi là Thống Nhất). Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số trong toàn xã có 2.825 khẩu trong 288 hộ.

tong quan tho truong.jpg
Bản đồ xã thọ trường thu nhỏ

          Ruộng đất canh tác kể cả ao hồ trên 722 mẫu. Nhưng ruộng công điền, công thổ và đặc biệt trong làng chỉ răm ba tên địa chủ Lý Trưởng, Hương Bạ đã chiếm mất 512 mẫu, bằng 70,91% diện tích đất toàn xã, chỉ còn lại 209 mẫu bằng 28,95% diện tích, với số dân hàng ngàn khẩu trong hàng trăm hộ, nhiều gia đình không có tấc đất cắm dùi, quanh năm phải đi cấy thuê, gặt rẽ, sống gửi ở nhờ...

Sự ra đời và hình thành của xã Thọ Trường ngày nay là cả một quá trình thay đổi, biến động, tạo lập qua các triều đại phong kiến trước đây.

          Từ thế kỷ XV trở về trước (thời nhà Hồ) Thọ Trường còn có tên gọi là làng Cổ Linh, đến thời Lê Trung Hưng đổi tên thành Địa Linh, bước sang thời Tự Đức thứ 17 gọi là Minh Linh, sang đời Hàm Nghi mới đổi thành Long Linh (tục còn gọi là Làng Chênh) thuộc Tổng Thuỵ Nguyên Phủ Thiệu Hoá.

          Sau cách mạng tháng Tám thành công năm 1947 làng đổi tên là xã Thọ Trường ngày nay.

          Xã Thọ Trường là quê hương cách mạng; nằm cách xa trung tâm huyện Thọ Xuân về hướng Đông  khoảng 4 km đường chiêm bay, hơn 10 km đường xe chạy dọc theo đê sông Chu; với tổng diện tích đất tự nhiên 409,7 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 244 ha; Phía tây nam bên kia Sông chu giáp với 2 xã Thọ Nguyên và Xuân Khánh, phía bắc và tây bắc giáp với 2 xã Xuân Vinh và Xuân Tân, phía Đông và Đông nam giáp với xã Thiệu Ngọc của huyện Thiệu Hóa.

          Dân số cả xã hiện nay có 4.264 nhân khẩu cấu trúc trong 1.019 hộ gia đình, cơ cấu địa giới hành chính chia thành 9 thôn (từ thôn 1 đến thôn 9), bốn làng (làng Long Linh Ngoại, làng Long Linh Nội, Làng Căng Hạ và Làng Long Linh Mới), tỉ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm 0,5 %; mật độ dân số 984 người/ km2.

Sự hình thành và ra đời của xã là một quá trình đấu tranh gian khổ với muôn vàn thử thách, với thiên nhiên khắc nghiệt. Người dân Thọ Trường với đức tính cần cù, chịu thương chịu khó đã dũng cảm bám chặt và đứng vững trên mãnh dất quê hương yêu dấu của mình đi từ buổi ban đầu khai sơn phá thạch, dựng làng giữ nước.

 

 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG SỰ KIỆN ĐẤU TRANH BẢO VỆ LÀNG

 

          Vào nửa đầu thê kỷ XVII, triều Lê suy tàn, bon vua, quan chỉ lo vơ vét, bòn rút mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động để ăn chơi phè phởn, bắt hàng vạn thanh niên trai tráng lương thiện đi chém riết lẫn nhau, gây nên cảnh thương tàn nồi da, xáo thịt, vì quyền lợi ích kỷ của 2 dòng họ Trịnh - Nguyễn.

          Trước cảnh nội chiến liên miên kéo dài hàng thế kỷ nạn hạn hán, lụt bão xảy ra thường xuyên, mấy năm liền mùa màng thất bát, dân tình hoang mang chán nản, đê điều hàng năm không có người chăm coi, tu bổ, nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Hà thường xảy ra những vụ lụt lớn do vỡ đê, cảnh đồng trắng nước trong, nhà xiu vách nát, có vùng cả huyện phải bỏ quê cha đất tổ ra đi xa phương cầu thực như: huyện Khoái Châu - Hưng Yên tục truyền có câu “Oai oái như huyện Khoái xin ăn”

          Vào giai đoạn này xã Thọ Trường cũng như nhiều làng xã ven đê ở Bắc Hà, một tai nạn đã ập xuống đột ngột, nước sông chu vào mùa mưa lũ, nước ùn ùn râng lên rồi bất thần phá tung từng đoạn đê tạo thành những luồng xoái lớn rữ rội chàn vào làng cuốn phăng đi tất cả nhà cửa, tài sản, trâu bò, nhân dân trong làng hầu hết chạy không kịp, bị dòng nước cuốn phăng ra biển. Cả làng sau nạn vỡ đê chỉ còn sống sót 2 người phụ nữ là bà Lê Thị Kim và bà Nguyễn Thị Sùng thoát nạn, bà Sùng chạy ra phác lỗ nương dựa và người anh, con gái bà sau này lấy ông Sinh đồ Trịnh Hưng Quốc, còn bà Lê Thị Kim chạy lên Lam Sơn ở với người anh trai, con gái thứ 3 của bà sau này lấy ông quận công Nguyễn Đỉnh. 2 ông chở về quê vợ lấp ấp chiêu dân, gây dựng làng mạc, từ đấy 2 ông trở thành thủy tổ của 2 họ (Trịnh - Nguyễn) làng này. Long Linh trở lại hồi sinh từ đấy.

         

ĐẤU TRANH BẢO VỆ LÀNG:

 

          Sau nạn vỡ đê nước rút đi, di tích còn để lại thành 1 cái hồ lớn, dân làng đặt tên là “Hồ Lổ Di Sứ” nhân dân trong làng lấy hồ làm của công. Hàng năm thường trồng sen nuôi cá, nguồn thu nhập ( hàng năm ) khá lớn.

          Thiên nhiên khắc nghiệt tàn ác ghê gớm nên con người bất lực khoan tay khuất phục trước nó, ngược lại thiên nhiên sẽ ưu đãi con người gan góc, kiên cường, cương quyết và biết chế ngự nó, phong cảnh giàu đẹp sản vật dồi dào.

          Mùa hạ về sắc trời đồng quê trong xanh, đáy hồ lung linh in bóng mây trắng lững lờ trôi chen vào gương sen sặc sỡ như 1 tấm thảm thiên nhiên kỳ ảo. Hương sen cuốn theo làn gió ngào ngạt tỏa đi muôn nơi. Xóm làng, đứng từ xa trông vào, tràn ngập trong sắc hồng của sen, màu xanh của thảm lúa mênh mông chen lẫn rặng vải mượt mà, tiếng trầm tư dọc theo trườn sông  như gửi tâm tình với dòng sông Chu về xuôi lên ngược của người dân Thọ Trường.

          Trước cảnh thiên nhiên giàu và đẹp, bọn quan lại Thiệu Thiên Phủ với lòng tham lam vô độ đã dùng quyền lực kẻ cả bắt nhân dân Thọ Trường hàng năm phải hái sen, bắt cá nộp cho chúng.

          Hành động trâng tráo, ngang ngược ấy đã làm cho nhân dân Thọ Trường bất bình, căm phẫn. Không thể khoanh tay, bó gối đứng nhìn trước cảnh tượng bất công, nhân dân trong xã đoàn kết lại, dưới sự chỉ huy của hai ông Trịnh Thời Mao và Nguyễn Kỳ. Một mặt đấu tranh trực diện không cống nộp, một mặt trình tờ kiện có hàng trăm chữ ký của nhân dân lên tận triều đình nhà Lê.Việc đã rồi, để mị dân, xoa dịu đấu tranh( của thần dân), nhà Lê đành phải cử quan khâm sai về tra xét và xử kiện. Trước sự việc rõ ràng, tình ngay lý phải, bọn quan lại Thiệu Thiên Phủ phải chịu thất bại. sở hữu của họ lại về tay nhân dân trong xã. Để ghi nhớ công lao của hai vị đứng đầu cuộc đấu tranh và truyền thống đoàn kết của nhân dân trong xã, dân làng xây đền thờ, khắc bia kỷ niệm, trên bia đề hai câu thơ:

    “Sông lường dẫu cạn dạ nào vơi,

Hồ Lỗ về ta lòng mới thỏa”.

          Cuộc đấu tranh giành lại Hồ Lỗ thắng lợi chưa được bao lâu thì dân làng phải đứng lên tiếp tục đấu tranh giữ đất.

Đất bãi nổi trước làng cho dân phù lưu đến canh tác nhưng ít lâu sau, do bọn đầu sỏ xúi dục, dân phù lưu kiện cáo để chiếm đất. Được sự đồng tình của quan tri châu là Trịnh Thành Dụ, chỉ một đêm dân làng đã đắp xong con đê nổi và trồng cây lưu niên trên bãi. Sáng tinh mơ, quan trên về xử, dân làng kéo ra đấu tranh. Trước hiện trường cụ thể, cuộc đấu tranh của nhân dân Long Linh lại giành được thắng lợi.

          Đoàn kết đấu tranh là một truyền thống quí báu của xã nhà. Người nông dân Thọ Trường sớm có một tình cảm gắn bó với quê hương tha thiết, đó là cơ sở của lòng yêu nước đứng lên làm cách mạng, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết của chính giai cấp mình, chính vì vậy mà mỗi khi đất nước có họa xâm lăng thì nhân dân Thọ Trường lại xuất hiện những người con ưu tú ra đi cứu dân, cứu nước.

 

TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM OANH LIỆT

 

          Truyền thống chống ngoại xâm là nét nổi bật của tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, là cơ sở vững bền vươn lên của nhân dân Thọ Trường nói riêng, của nhân dân Thọ Xuân và nhân dân trong tỉnh nói chung. Để bảo vệ sự sống còn của dân tộc, gìn giữ những thành quả lao động sáng tạo, bảo tồn và phát triển nền văn hóa lâu đời của mình.

          Như bao làng xã Việt Nam, lịch sử ra đời và trưởng thành của xã Thọ Trường là cả một quá trình đấu tranh gian khổ vật lộn với thiên nhiên và mỗi khi đất nước có nguy cơ bị xâm lược, nhân dân trong xã lại nhất tề đứng lên cùng nhân dân cả nước chống giặc để bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc.

          Truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tất yếu khách quan của dân tộc Việt Nam.

          “ Làng với nước”, "nước với làng”,  là mối quan hệ biện chứng của dân tộc Việt Nam trước yêu cầu lịch sử chống ngoại xâm.

          Tục ngữ Việt Nam có câu: “ Nước mất thì nhà tan”. Mối quan hệ giữa cá nhân với gia đình, gia đình với làng xã, “ nhà với làng”, “ làng với nước”"quê hương với đất nước” là một thể thống nhất là mối quan hệ logic biện chứng,  rất tự nhiên và trọn vẹn, gắn bó từ lâu đời rất Việt Nam.

          Nhân dân Thọ Trường sớm có một truyền thống yêu nước nồng nàn, kế thừa và phát huy tinh thần quật cường bất khuất của cha ông, nơi sản sinh ra các anh hùng dân tộc như Bạch Đằng Giang dấn chìm hàng ngàn quân xâm lược Tống xuống dòng sông sâu, hòa lẫn lời thề Lũng Nhai, còn âm vọng mãi hôm nay; Như một lời thề quyết chiến của cả dân tộc: “ Thà chết nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ” quyết tâm đuổi giặc, thu lại vẹn toàn non sông bờ cõi.

          Trên mãnh đất Thọ Xuân nhỏ hẹp này đã ghi lại bao chiến tích lẫy lừng, bia Vĩnh Lăng ngàn năm còn chói ngời hào khí với chiến công và bút tích thiên tài của vị anh hùng dân tộc, nhà đại thi hào Nguyễn Trãi. Trận Đa Căng còn loang máu của quân thù. Những tên người, tên núi, tên sông, tên đất tên làng đã đi vào trang sử chống ngoại xâm của dân tộc như một thiên anh hùng ca bất diệt.

Nhân dân cả nước, cùng nhân dân Thọ Xuân và nhân dân Thọ Trường rất đổi tự hào về lịch sử oanh liệt của cuộc kháng chiến, kiên cường anh dũng mười năm chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Dưới sự lãnh đạo tài giỏi của Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã làm cho quân thù bạt vía kinh hồn hàng thế kỷ. Khiến cho:

“ Ô-Mã ra đến cửa biển còn hồn bay phách lạc

Triệu Tiết về đến nước còn tim đập chân run"

 

          Truyền thống oanh liệt đó đã và đang được phát huy không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 

**********************************************

         

          Cuối thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam suy thoái cực độ, lâm vào tình trạng bế tắc, phản động quay lưng phản bội Tổ Quốc, vứt bỏ ngọn cờ dân tộc. Khom lưng, quỳ gối đầu hàng dâng nước ta cho xâm lược Pháp. Nước ta từ đấy hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp, nhân dân ta phải chịu một cổ hai tròng rơi vào cảnh lầm than nô lệ.

          Bất bình trước thái độ ươn hèn của vua quân nhà Nguyễn, ngọn lửa cứu nước bùng lên từ bắc chí Nam, quyết chống lại bọn xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Ngọn cờ dân tộc do các sĩ phu phong kiến giương lên nhưng do hạn chế về lịch sử và thời đại, giai cấp phong kiến đã hết vai trò lịch sử của nó nên các phong trào yêu nước trong thời kì này nhanh chóng bị dập tắt.

          Khi thực dân Pháp vừa đặt chân lên đất Thanh Hóa, nhân dân Thọ Trường cùng nhân dân trong huyện quyết đứng lên chống lại. Nơi đây lại xuất hiện những ngưòi con ưu tú của quê hương xả thân vì nước vì dân, tham gia và trở thành những người chỉ huy dũng cảm phong trào Văn Thân, phong trào Cần Vương, Ba Đình, Hùng Lĩnh như các cụ: Phan Đình Tiến (làng Nội); Chánh quản Vũ Hữu Đỉnh (làng Ngoại|) Tú Ba (làng Nội), Nguyễn Văn Cấn (Căng Hạ)…

          Thực dân Pháp tập trung binh lực, đàn áp hết sức dã man những chiến sĩ yêu nước nhưng tinh thần chiến đấu quên mình của các chiến sĩ Cần Vương và nghĩa quân Ba Đình, Hùng Lĩnh đã để lại cho nhân dân trong tỉnh cũng như nhân dân Thọ Trường: ý chí cứu nước, tinh thần bất khút trước kẻ thù. ngọn lửa cứu nước vẫn được ấp ủ nhen nhóm trong lòng nhân dân ta, chỉ đợi khi có điều kiện là bùng lên thành biển lửa mênh mông thiu cháy quân xâm lược và bè lũ bán nước hại dân.

- Khởi nghĩa Ba Đinh do ông Phạm Bành và ông Đinh Công Tráng lãnh đạo, căn cứ đóng tại giáp giới 3 xã ở huyện Nga Sơn – Thanh Hóa.

- Căn cứ Hùng Lĩnh do nhà chí sĩ yêu nước Tống Duy Tân chỉ huy sau bị vỡ, ông bị bắt do người học trò phản bội, chúng mang ông về thị xã Thanh Hóa để chém hòng uy hiếp tinh thần yêu nước của nhân dân ta, ngược lại trước thái độ bình tĩnh hiên ngang của ông làm cho chúng hoảng sợ.